News Ticker

Menu

Browsing "Older Posts"

Browsing Category "Vật Liệu Chống thấm"

Tiêu chuẩn chống thấm trong xây dựng rút ra từ TCVN 367 : 2006

Thứ Năm, 29 tháng 11, 2018 /
TIÊU CHUẨN XÂY DỰNG VIỆT NAM TCXDVN 367 : 2006 (VẬT LIỆU CHỐNG THẤM TRONG XÂY DỰNG) hiện là tiêu chuẩn duy nhất có liên quan. Giúp mọi người trong và ngoài ngành xây dựng tìm hiểu một cách có hệ thống các phân loại về Vật liệu chống thấm và các cách thức, nguyên lý chống thấm tại Việt Nam.

Chongtham.com.vn sẽ trình bày lại tài liệu trên sao cho dễ hiểu với người đọc, tránh tình trạng nhìn thấy có quá nhiều con số sẽ dẫn đến không tập trung vào vấn đề cốt lõi.

I. Phân loại vật liệu chống thấm:

1. Phân loại theo nguồn gốc vật liệu
  • Vật liệu có nguồn gốc vô cơ: các vật liệu có gốc bitum, xi măng. Vật liệu IBST của Viện khoa học công nghệ xây dựng Việt Nam là vật liệu đầu tiên có gốc vô cơ do Việt Nam sản xuất ra. Ứng dụng chủ yếu trong vữa không co ngót, vữa tự san và tự chảy. Chống thấm và chống mài mòn.
  • Vật liệu có nguồn gốc hữu cơ: Vật liệu Intoc của Việt Nam là điển hình cho vật liệu này. Vật liệu có nguồn gốc hữu cơ thường thân thiện với môi trường và không độc.
  • Vật liệu hỗn hợp (vô cơ và hữu cơ): Rất phổ biến trên thị trường, thường có hai thành phần trộn với nhau.
2.Phân loại theo trạng thái vật liệu
Dạng lỏng
  • Dung môi nước
  • Dung môi hữu cơ
  • Không có dung môi
Dạng Paste (dạng hồ – keo -): là dạng hỗn hợp chống thấm có dạng sệt như vữa hoặc sơn epoxi
  • Một thành phần
  • Nhiều thành phần (thường là 2 thành phần khô và lỏng trộn vào nhau)
Dạng rắn
  • Dạng hạt
  • Dạng thanh: phổ biến là thanh cản nước hay thanh trương nở (water stop) có cấu tạo từ cao su có tính trương nở cao khi gặp nước. Được dùng trong thi công mạch ngừng hoặc cổ ốngThanh cản nước Made in Việt Nam
  • Dạng băng: Waterbars . Những người thi công nền móng các tòa nhà cao tầng chắc không lạ với loại vật liệu này. Đặt băng cản nước là yêu cầu bắt buộc tại các mạch ngừng của tầng hầm. Loại băng này được làm từ nhựa PVC có cấu tạo đặc biệt giúp ngăn cản bất kỳ sự thẩm thấu do nứt vỡ nào tại mạch ngưng.
  • Dạng tấm trải: Đây là loại phổ biến có trên thị trường. Tấm trải thường làm bằng Bitum được gia cố thêm sợi thủy tinh hoặc lớp khoáng (cát hoặc đá). Tấm trải thường có khổ rộng tiêu chuẩn 1 m. Chất lượng của tấm trải phụ thuộc vào chất lượng của Bitum làm ra chúng. Nếu Bitum kém thì thường dẫn đến lúc thi công sẽ bị bục màng hoặc chảy không đều, bám dính kém. Bitum tinh chế sẽ không bị hiện tượng này. Các tấm trải mặt cát có xuất xứ từ Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ thường có chất lượng gia công kém hơn các tấm trải có chất lượng từ Châu Âu hoặc tuân theo tiêu chuẩn Châu Âu (EU)

3. Phân loại theo nguyên lý chống thấm

Ở đây chúng ta quay lại định nghĩa thế nào là chống thấm ? Theo wikipedia thì chống thấm là việc ngăn chặn nước dưới dạng lỏng thâm nhập xuyên qua hay lan tràn vào trong một vật dụng nào đó, trong những điều kiện quy định.
Chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản hơn: Chống thấm là ngăn nước hoặc chuyển hướng dòng nước (hơi ẩm) thấm sâu vào hạng mục cần xử lý. Việc ngăn hoặc chuyển hướng này có 3 cách:
  • Chống thấm bề mặt: chuyển hướng dòng nước, hơi ẩm. Các dạng tấm trải Bitum, sơn chống thấm là điển hình cho nguyên lý này. Về bản chất ở đây là bề mặt cần chống thấm được cách ly hoàn toản khỏi nguồn gây thấm. Nếu màng hay tấm trải Bi Tum bị thủng, rách thì sẽ dẫn đến bị thấm bình thường.
  • Chống thấm toàn khối: ngăn nước từ bên trong, phối trộn với vật liệu chống thấm để cả khối vật liệu trở nên có tính kháng nước. Phướng pháp này thường dùng để chống thấm từ đầu ngay từ khi thi công các Công trình. Tại các khu vực xung yếu như nhà vệ sinh, nhà tắm, hố thang máy, seno. Cần bắt buộc thi công theo hình thức này. Giá cả vật liệu loại này cũng không quá đắt. Phù hợp với túi tiền của người Việt Nam
  • Chống thấm chèn, lấp đầy : Vật liệu chống thấm sau khi được phun, quét lên bề mặt vật liệu sẽ thẩm thấu sâu vào bên trong vật liệu, chèn và điền đầy các mạch mao dẫn, kẽ hở giữa các hạt cốt liệu, giúp cho vật liệu trở nên kháng nước, kháng ẩm. Phương pháp này thường chỉ biến bề mặt ngoài của vật liệu trở lên kháng nước. Độ dày của lớp kháng nước vào khoảng 5-10 mm (tùy vào thành phần cấu tạo của Vật liệu đó)
Nguồn bài viết lấy từ link: http://chongtham.com.vn/dieu-can-biet/tieu-chuan-chong-tham/

Cách chọn và sử dụng vật liệu chống thấm trong xây dựng

Thứ Tư, 14 tháng 11, 2018 /
Chọn và sử dụng vật liệu chống thấm luôn là một bài toán khó khăn đặt ra với các đơn vị thi công hạng mục chống thấm. Tài liệu về Phương pháp chống thấm cũng không thống nhất. Theo thống kê của Chúng tôi thì tại Việt Nam hiện chỉ có duy nhất TIÊU CHUẨN XÂY DỰNG VIỆT NAM TCXDVN 367 : 2006 (VẬT LIỆU CHỐNG THẤM TRONG XÂY DỰNG) là có đề cập một phần đến những vấn đề trên.

Cũng để cho dễ dàng và khách quan hơn cho người sử dụng vật liệu khi đi lựa chọn tại các Tổng Kho Chống Thấm. Chongtham.com.vn đã sưu tầm và lược dịch một số tài liệu của theconstructor.org . Theo đánh giá của chúng tôi. Đây là một bài viết có chất lượng có thể giúp xử lý các tình huống chống thấm nhỏ và mới. Sau đây là bài tổng hợp của chúng tôi.
Chống thấm trong các tòa nhà là việc tạo ra cách ngăn nước tại bề mặt cho các hạng mục của tòa nhà: Nền móng, tầng hầm, mái và các kết cấu có tiếp xúc với nước. Để ngăn nước chúng ta có thể tăng cường tính kháng nước của vật liệu hoặc ngăn không cho nước thấm vào bề mặt vật liệu (cản nước)
Vật liệu chống thấm phổ biến cho các tòa nhà hiện nay: Vật liệu gốc xi măng, màng chống thấm gốc nhựa đường (bitum), chống thấm tạo mạng dạng lỏng (sơn chống thấm) và vật liệu chống thấm gốc pô li u rê than (polyurethane)
Hạng mục, cấu trúc trong tòa nhà bắt buộc phải chống thấm bao gồm: Chống thấm tầng hầm, chống thấm sàn vệ sinh, hố thang máy, bếp, ban công, lô gia (logia), mái, bể nước, bể bơi

I.Các loại vật liệu chống thấm thường dùng:

Xắp xếp theo độ phổ biến từ trên xuống
  1. Vật liệu gốc xi măng
  2. Chống thấm tạo mạng dạng lỏng (sơn chống thấm)
  3. Màng chống thấm gốc nhựa đường (bitum)
  4. Màng bitum dạng quét (bitum lỏng)
  5. Màng chống thấm gốc pô li u rê than
Vật liệu gốc xi măng: Đây là vật liệu chống thấm thông dụng và phổ biến nhất hiện nay. Ưu điểm của nó là rẻ, dễ phối trội, dễ thi công và có rất nhiều nhà sản xuất. Vật liệu này thường được dùng cho những khu vực ẩm ướt trong nhà như Khu vệ sinh, nhà tắm bởi vì nó không có khả năng thẩm thấu vào vật liệu và sẽ bị mất tính kháng nước nếu tiếp xúc với ánh mặt trời. Tại Việt Nam có thể nêu lên một vài cái tên nổi tiếng: Sika, Basf với hình thức phổ biến là Vật liệu 2 thành phần
Những khu vực được khuyên dùng vật liệu gốc xi măng:
  • Hầm bể xử lý nước thải
  • Hầm ngầm
  • Kênh, Rãnh, cống thoát nước
  • Khu vệ sinh, nhà tắm
Chống thấm tạo mạng dạng lỏng (sơn chống thấm): Đây là loại sơn gốc polime được tăng cường tính chống thấm. Loại này tạo màng mỏng (thường là 2 lớp-lớp lót và lớp phủ), dễ thi công bằng chổi, ru lô hoặc máy phun sơn. Sơn chống thấm dạng này có độ kéo dãn cực cao , có thể kéo dãn được lên 280%. Độ bền của loại này phụ thuộc vào bề mặt vật liệu (bề mặt sạch hay bẩn) và loại Pô li me làm vật liệu. Tại Việt Nam đã có nhiều hãng sơn tham gia vào mảng này,Nếu Bạn cần các vật liệu chống thấm chuyên nghiệp hơn. Bạn có thể tham khảo thêm các dòng vật liệu này tại đây
Màng chống thấm gốc Bitum (nhựa đường): Hay còn gọi là tấm trải Bi tum là loại vật liệu được tạo thành từ nhiều lớp bi tum (có tính kháng nước tự nhiên). Các nhà sản xuất thường tăng cường tính dẻo dai, tính chịu đựng đâm thủng bằng cách cho thêm các lớp lưới sợi thủy tinh trong các lớp bi tum. Độ bền của loại tấm trải này phụ thuộc vào bi tum tạo nên nó. Nếu tấm trải có chất lượng kém thì lâu ngày sẽ dẫn đến tình trạng bi tum bị thoái hóa, nứt vỡ bong tróc như nhựa đường bị vón cục.
Khuyến cáo, Bi tum không chịu đựng được ánh sáng mặt trời nên cần có một lớp vữa phủ để bảo vệ nó. Về cách thức sử dụng thì tấm trải Bitum có hai cách: Dán lên bề mặt cần chống thấm (màng tự dính) hoặc dùng đèn khò lửa làm nóng chảy một phần tấm màng để tạo độ dính với bề mặt bên dưới. Tại Việt Nam, Tấm trải Bitum đã được biết đến từ những năm 80 của thế kỷ 20 dưới tên gọi (Giấy dầu) tuy nhiên chất lượng thì bị thả nổi và thi công sai tràn lan dẫn điến hiệu quả nhiều khi không được như mong muốn.
Màng bitum dạng quét (bitum lỏng): Tương tự như tấm trải bitum, Bi tum lỏng có thành phần chủ yếu là bitum dạng lỏng có thể có 1 hoặc nhiều thành phần (để tăng cường tính kháng UV) và có thể pha thêm sợi khoảng (để tăng cường tính liên kết), loại này dễ dàng thi công bằng cách lăn hoặc quét lên bề mặt cần chống thấm.
Bitum lỏng thường dùng cho các bề mặt chống thấm ngang và đứng. Nó dễ dàng bám dính vào bề mặt, tạo thành lớp phủ không mối nối, khi khô tạo thành lớp màng chống thấm dai bền, đàn hồi trong khoảng nhiệt độ biến thiên rộng. Điểm yếu của lớp màng bitum loại này là không chịu được đâm thủng, dễ bị thoái hóa sau 2-3 năm dẫn đến phải chống thấm lại. Nếu thi công bề mặt ngang cần có lớp vữa phủ để bảo vệ, thi công bề mặt đứng cần có lớp sơn phủ
Màng chống thấm gốc pô li u rê than: Loại vật liệu này nên dùng cho bề mặt ngang, phẳng ở ngoài trời (trần bê tông, mái tôn). Đây là loại sơn tự san phẳng, có ưu điểm là dễ thi công, bám dính cao,chống được tia UV, độ căng và chống đâm thủng cực kỳ tốt (tốt hơn Tấm trải Bitum). Điểm yếu là giá thành cao, bám dính kém nếu bề mặt có hơi ẩm. Hiện tượng bong tróc có thể xảy ra nếu sau này có hơi ẩm dưới tấm phủ. Không được dùng cho chống thấm ngược, chỉ dùng cho chống thấm thuận. Với một số loại còn yêu cầu thi công bằng bơm có áp suất cao, cần có đồ bảo hộ trước khi thi công.
Tại Việt Nam. Viện IBST là đơn vị đầu tiên nghiên cữu và sản xuất thành công loại vật liệu này. Tuy nhiên do những nhược điểm kể trên, nên vật liệu này thường được dùng cho công trình lớn, ít khi được dùng cho công trình nhỏ hay nhà dân.

Nguồn bài viết:  http://chongtham.com.vn/dieu-can-biet/chon-vat-lieu-chong-tham/